HOME

Thursday, 29 September 2022

Bài thơ - Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

 

Thi hào Thôi Hiệu (704-754), quê ở Biện Châu, đổ Tiến sĩ vào năm Khai Nguyên thứ 11 (723), đời vua Đường Huyền Tông tức Đường Minh Hoàng (Lý Long Cơ). Thôi Hiệu (Thôi-Hạo) làm thơ rất hay; đến đổi nhà thơ hay cùng thời là Lý Bạch cũng phải nể vì.

 

Tương truyền, khi Lý Bạch lên lầu Hoàng Hạc chơi, thấy cảnh sơn thủy hữu tình muốn chấp bút đề thơ, chợt thấy trên vách đã có bài Hoàng Hạc Lâu* của Thôi Hiệu liền đọc, rất mực khen ngợi, và than: “Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc; Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”, tạm dịch: “Trước mắt có cảnh đẹp mà không thể làm thơ được, vì đã có bài thơ của Thôi Hiệu rồi”. Vậy bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu hay như thế nào, xin chép ra đây để qúi độc giả thưởng lãm.


黃鶴樓

昔人已乘黃鶴去,
此地空餘黃鶴樓。
黃鶴一去不復返,
白雲千載空悠悠。
晴川歷歷漢陽樹,
芳草萋萋鸚鵡洲。
日暮鄉關何處是,
煙波江上使人愁。

 

Hoàng Hạc Lâu

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

Tình xuyên lịch lịch Hán-Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh-Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

 

Thôi Hiệu

 

Đặc biệt, bài Hoàng Hạc Lâu có rất nhiều người dịch ra quốc ngữ. Xin đơn cử một số danh sĩ đã dịch bài Hoàng Hạc Lâu:

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Người xưa cưỡi hạc đã bay cao

Lầu hạc còn suông với chốn nầy

Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn

Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay

Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng

Xanh ngát châu Anh, lớp cỏ dày

rời tối quê hương đâu tá nhỉ?

Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

 

(Ngô Tất Tố dịch)

 

Tiếp theo cụ Trần Trọng Kim có lời dịch Hoàng Hạc Lâu:

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Người đi cưỡi hạc từ xưa

Đất nầy Hoàng-Hạc còn lưa một lầu

Hạc vàng đi mất đã lâu

Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông

Hán-Dương cây bóng lòng sông

Bãi kia Anh-Vũ cỏ trông xanh rì

Chiều hôm lai láng lòng quê

Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu

 

(Trần Trọng Kim dịch)

 

Bản dịch của Trần Trọng San :

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,

Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.

Hạc đã một đi không trở lại,

Man mác muôn đời mây trắng bay.

Hán-Dương sông tạnh, cây in thắm,

Anh-Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.

hiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy;

Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

 

(Trần Trọng San dịch)

 

Nhà thơ Tản-Đà đã dịch bài Hoàng Hạc Lâu theo thể thơ Lục Bát:

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

 

(Tản Đà dịch)

 

Kính thưa qúi độc giả, còn nhiều, rất nhiều người dịch bài thơ trên. Và gần đây, được biết thi bá Vũ Hoàng Chương cũng có bản dịch bài Hoàng Hạc Lâu:

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Xưa hạc vàng bay vút bóng người

Đây lầu Hoàng-Hạc chút thơm rơi

Vàng tung cánh hạc đi đi mất

Trắng môt màu mây vạn vạn đời

Cây bến Hán-Dương còn nắng chiếu

Cỏ bờ Anh-Vũ chẳng ai chơi

Gần xa chiều xuống đâu quê quán?

Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

 

(Vũ Hoàng Chương dịch)

 

Riêng, hậu học (Nguyễn Minh Thanh), cũng mạo muội bắt chước người đi trước, xin phỏng dịch bài Hoàng Hạc Lâu y cách điệu Cổ Phong của nguyên tác như sau:

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Cưỡi hạc người xưa bóng mờ mịt / mịt mờ (đúng vận Thơ Đường)

 

Để lầu Hoàng-Hạc đứng trơ vơ

Hạc vàng một thoáng mù tăm tích

Mây trắng ngàn năm mãi lửng lơ

Sông biếc Hán-Dương cây lộng bóng

Cỏ thơm Anh-Vũ bãi ươm mơ

Chiều về quê quán phương nào nhỉ ?

Khói sóng ơ hờ… ai ngẩn ngơ…!!

 

(Nguyễn Minh Thanh dịch)

 

Lời Phụ Bàn: “Hoàng Hạc Lâu” là bài thơ Đường cấu trúc hơi đặc biệt: “phá thể”, lai cách điệu Cổ Phong, vì chữ cuối của câu thứ nhứt “KHỨ” thanh “trắc”, và chữ áp cuối “HẠC” đúng ra phải là thanh “bằng”. Tuy nhiên bài Hoàng Hạc Lâu rất nổi tiếng. Có người cho rằng chữ “KHỨ”, quê của Thôi Hiệu đọc là “KHÂU”, hoặc “KHƯ”, vẫn là thanh “bằng”, đúng vận. Nói thế chỉ đúng một mà thôi; bởi vì còn chữ “HẠC” thanh “trắc”, lý giải cách nào cho ổn?!

 

Cũng có người nói rằng tác giả làm thơ không đúng niêm luật. Thì phải rồi, vì theo cách điệu Cổ Phong, nên không cần gò bó. Vả lại, có nhiều bài thơ không đúng niêm luật, song vẫn rất hay. Như bài “Đèo Ba Dội” của bà Hồ Xuân Hương, bài “Độc Tiểu Thanh Ký” của cụ Nguyễn Du.

 

Tóm, không phủ nhận “qui luật” làm thơ. Song, có khi cần thoát khỏi “khuôn khổ” để bài thơ được thăng hoa vượt thời gian và không gian. Phải chăng, đó chính là mục đích, cũng là cứu cánh của thi nhân? Hỏi, tức là trả lời.

 

Trong những câu thơ của Hoàng Hạc Lâu hầu như đều rõ nghĩa. Duy, câu thứ 7 “Nhật mộ hương quan hà xứ thị” là câu nghi vấn (?), nhưng hai cụ: Trần Trọng Kim và Tản Đà dịch thành xác định, thấy không ổn.

 

Thứ nữa, có độc giả suy luận, ngoài nghĩa “Chiều về quê quán phương nào nhỉ?”, còn nghĩa khác hàm ý sâu xa hơn, và khó có thể diễn dịch được. Đó là, tác gỉa muốn ám chỉ: Khi đến tuổi về chiều, sau khi chết đi về đâu? Giống như câu hỏi của loài người có tự ngàn xưa cho dến ngàn sau: Người từ đâu đến? Chết, đi về đâu?

 

Và qua trí tưởng tượng, chúng ta không thể không biết quê quán mình ở nơi đâu cho dù ngày hay đêm. Vì vậy, “hàm ý sâu xa hơn” là khả chấp, thưa quí độc giả.

 

Theo đuổi cả hai ý nghĩa “thông thường” và ý nghĩa “sâu xa” , hậu học xin tạm dịch là: “Chiều về quê quán phương nào nhỉ ?”

 

Trong câu “dịch” trên, có 2 trường hợp xảy ra: nếu người đọc cho dấu “phẩy” ngay sau chữ “về,” câu thơ có nghĩa thông thường. Nếu người đọc cho dấu “phẩy” ngay sau chữ “quán,” câu thơ có nghĩa sâu hơn. Do đó, cái hàm ý sâu xa có thể diễn đạt như vầy: “Chiều về quê quán, phương nào nhỉ?”

 

Thưa quí độc gỉả, đây chỉ là thiển ý. Mong quí thức giả góp ý. Trân trọng.

 

 

Nguyễn Minh Thanh  
dịch, biên soạn

 

* Hoàng-Hạc-Lâu: lầu tên Hoàng-Hạc ở Tây Bắc huyện Vũ-Xương, tỉnh Hồ-Bắc (Trung-Hoa) . Tương truyền ông Phí-Văn-Vi, sau khi tu luyện thành Tiên, thường cỡi hạc vàng ngao du sơn thủy. Khi ngang qua vùng Vũ Xương, trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bèn dừng hạc trên ghềnh đá để ngắm cảnh đẹp trường giang và ngũ hồ. Người đời sau đặt tên ghềnh đá là Hoàng Hạc Thạch rồi dựng ngay trên ấy ngôi tháp lầu và đặt tên đặt tên là Hoàng Hạc L.âu. Qua nhiều lần trùng tu Hoàng Hạc Lâu tồn tại đến ngày nay.

 

 

Tham khảo:

– Thành Ngữ Điển Tích & Danh Nhân Tự Điển của giáo sư Trịnh Vân Thanh

– Hán Việt Tự Điển của học giả Đào Duy Anh

– Các trang web Hoàng Hạc Lâu…

 

No comments:

Post a Comment